Tản mạn về chống Cộng – Phần II

Phần trước: Tản mạn về chống Cộng – Phần I (Trần Chung Ngọc)

II. HIỆN TƯỢNG CHỐNG CỘNG BẰNG CHIẾN THUẬT “MÁCH BU” CỦA TRẦN ÍCH TẮC

Trên trang nhà Chuyển Luân, tháng 11, 2006, có bài “Chuyện Xưa, Chuyện Nay” của Quảng Thiện, trong đó có câu: “Yêu nước vốn là bổn phận thiêng liêng của bất cứ người dân của một dân tộc nào. Vì yêu nước nên giả sử có một cách nhìn, một chính kiến, một chính sách khác đối lập với Nhà Nước cũng là chuyện bình thường. Tuy nhiên yêu nước kiểu Trần Ích Tắc yêu cầu ngoại bang can thiệp vào nước mình là một hành động không yêu nước chút nào, nếu không nói đó là hành động phản quốc.” Ngoài ra cũng còn bài ‘Vọng ngoại tắc ngu” của Trần Đình Hoàng cũng nói lên cùng một ý tưởng. Thảm thay, ở hải ngoại không thiếu gì những Trần Ích Tắc thời đại như vậy. Sau đây xin đơn cử vài sự kiện đậm mùi Trần Ích Tắc.

Những điều hoang tưởng vọng ngoại như “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con” (Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, trang 11), hoặc “Ủy ban Nhân Quyền Quốc Tế cho rằng…” hay “Tổ Chức Ân Xá Hoa Kỳ tố cáo rằng..”“Dư luận cả thế giới và nhất là Quốc Hội Mỹ đều tập trung xoáy vào điểm…”, hay ca tụng “Nghị Quyết của Hạ Viện Mỹ”“Luật về tự do tôn giáo thế giới của Mỹ” v..v.. để ép Việt Nam, đều nói lên “lòng yêu nước” của Trần Ích Tắc, đồng thời tỏ rõ sự yếu kém của những tổ chức tranh đấu hải ngoại, tự mình không thể làm nên trò trống gì, cứ phải dựa hơi những tổ chức, cơ quan ngoại quốc mà thực chất chẳng có ảnh hưởng gì trên quốc tế, nhất là đối với các nước Á Đông.

Người ta đã tin tưởng vào vài lời nói đãi bôi của vài nghị sĩ, dân biểu Mỹ cần kiếm phiếu, hay vài cái nghị quyết chỉ có giá trị trên mặt giấy tờ của Hạ Viện Mỹ, hay đạo luật về tự do tôn giáo thế giới (The International Religious Freedom Act) của Quốc hội Mỹ, làm như Mỹ có toàn quyền thay đổi bộ mặt chính trị ở Việt Nam bằng nghị quyết và đạo luật của Mỹ. Kết quả ra sao, chúng ta đã thấy rõ. Chẳng có ai buồn quan tâm đến thực chất của những nghị quyết hay đạo luật về tự do tôn giáo của Mỹ là như thế nào. Riêng về đạo luật về tự do tôn giáo thì Giáo sư luật tại đại học Emory, Abdullahi Ahmed An-Na’im, đã phê bình như sau: “Nhiều người nhớ lại những lời hoa mỹ thiên Ki Tô trước đây và tin rằng Hoa Kỳ chỉ quan tâm đến sự hỗ trợ các thừa sai Mỹ ở ngoại quốc.” (Emory University law professor Abdullahi Ahmed An-Na’im says many remember the early pro-Christian rhetoric and believe the United States is only interested in aiding American missionaries abroad.), và J. Paul Martin, Giám đốc trung tâm nghiên cứu nhân quyền tại đại học Columbia còn đi xa hơn nữa.  Ông nói: “Ở các nước như Nga sô, Pháp, Bỉ, và Đức, nhiều người coi đạo luật về tự do tôn giáo của quốc hội Hoa Kỳ là một phần của chủ nghĩa đế quốc rộng lớn hơn của Mỹ” (J. Paul Martin, executive director of Columbia University’s Center for the study of Human Rights, goes further.  In such countries as Russia, France, Belgium, and Germany, he says, many see Congress’ action as “part of a larger American imperialism”.) Nhưng người Việt chống Cộng lại coi đạo luật này như là một khuôn vàng thước ngọc có ảnh hưởng đến tình trạng tôn giáo ở Việt Nam, hay nói đúng hơn, có ảnh hưởng đến vài vị lãnh đạo tôn giáo chống chính quyền ở Việt Nam.

Người ta cũng còn tin tưởng ở hiệu quả của cái nghị quyết số 1481 mà nội dung là “Về sự cần thiết lên án của quốc tế đối với tội ác của các chế độ cộng sản độc tài” của một số nghị viên trong Quốc hội Âu Châu đưa ra, số nghị viên này quên cả sự cần thiết lên án cái lịch sử đầy những tội ác vô tiền khoáng hậu của Âu Châu đối với nhân loại. Theo Christopher Caldwell thì cái gọi là Quốc Hội Âu Châu, có tổng hành dinh ở Strasbourg, thường bị chế nhạo là “một tiệm phát ngôn vô hiệu quả và là nhà hưu trí cho những chính trị gia không bao giờ có thể được bầu vào trong quốc hội ở những quốc gia của họ.” [The European Union’s 25-country parliament, which sits in Strasbourg, is often ridiculed as a feckless talking shop and a retirement home for politicians who could never get elected to their national parliaments.]

Vô thượng thiên tài “mách bu” là Võ Văn Ái: Chuyên viên ngụy tạo văn kiện, thông tin giả từ trong nước theo đơn đặt hàng của NED để trình chủ và thế giới, từ đó kiếm được gần trăm ngàn đô la mỗi năm từ ông chủ NED. Những Trần Ích Tắc thời đại cũng còn thành lập phái đoàn nọ kia đến xin với Thủ Tướng Úc John Howard và Tổng Thống Bush của Mỹ để làm áp lực với Nhà Nước khi đến Việt Nam tham dự Hội Nghị APEC. Nhưng kết quả ra sao thì ai cũng biết. Bush và Howard không coi các Trần Ích Tắc vào đâu, và đặc biệt, Mỹ đã bỏ Việt Nam ra khỏi danh sách những nước cần quan tâm về vấn đề tự do tôn giáo. Bây giờ họ bèn quay ra lên án Bush là đã phản bội, không ủng hộ họ, không làm theo ý họ, mà không hiểu rằng kẻ phản bội [quốc gia của họ] chính là họ, chứ không phải là Bush. Họ tự coi mình là những nhân vật quan trọng mà không hiểu rằng Bush không hề coi họ là cái gì.  Thật vậy, họ có cái gì? trí tuệ, uy tín, hậu thuẫn của quần chúng? v..v.. đáng để cho Bush phải quan tâm đến. Thật ra thì Mỹ có bỏ hay không bỏ cũng chẳng nhằm nhò gì, vì đáng quan tâm hay không đáng quan tâm thì Mỹ cũng chỉ lập danh sách đó với tính cách giai đoạn chính trị và kinh tế mà thôi. Những người chống Cộng cực đoan hầu như đều có đầu óc của những con bò mộng Tây Ban Nha, cứ thấy màu đỏ là húc, chẳng còn biết trời đất nào nữa. Khi ngoại trưởng Condoleezza Rice tuyên bố một câu có ý khen tặng sự tiến bộ của Việt Nam là “Bắc Hàn và Myanmar nên thay đổi, lấy Việt Nam làm một bài học  mà bắt chước” thì những người Việt Nam có tinh thần dân tộc đều thấy đó làm niềm hãnh diện. Nhưng đối với những người chống Cộng đến chiều thì lại khác, họ lên án bà Rice là thiển cận. Họ không biết rằng Bắc Hàn còn đóng kín không mở cửa đi vào cộng đồng thế giới như Việt Nam (Hội Nghị APEC đã chứng tỏ như vậy), và Myanmar là một chế độ quân phiệt, xã hội hỗn loạn, không ổn định như Việt Nam. Họ thất vọng vì bà Rice không lên án Cộng Sản Việt Nam như họ mong muốn. Họ chống Cộng với quan điểm rất thiển cận: sự tự do của một số người chống đối chính quyền là sự tự do của cả dân tộc, và vài chức sắc tôn giáo chính là tôn giáo. Còn nữa, những nhà dân chủ đến Tòa Đại Sứ Mỹ uống sâm banh không có một khái niệm nào về chính trị của Mỹ, cứ tưởng Mỹ gọi mình đến cho uống sâm banh là hết lòng ủng hộ sát cánh với mình trong cuộc đấu tranh cho dân chủ của mình, không biết rằng Mỹ chỉ dùng mình như cái bàn đạp trong những cuộc thương thuyết về kinh tế với Việt Nam. Kinh nghiệm Mỹ dùng Diệm, Thiệu khi xưa không làm mở mắt những người vẫn còn thích đi làm đầy tớ.

Vì không hiểu rõ tinh thần dân tộc của người dân Việt Nam, không nghiên cứu về thực chất của vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo, không biết rằng Mỹ cũng là nước vi phạm nhân quyền vào bậc nhất trong cộng đồng quốc tế, không thuộc lịch sử Việt Nam, yếu kém về chính trị, và không  rõ chính sách đối ngoại của Mỹ v..v.. cho nên tới bây giờ mà vẫn còn những tổ chức chính trị, lực lượng tôn giáo đi “mách bu” mong rằng “bu” sẽ can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Thật là đáng buồn. Thử nghĩ xem Việt Nam có người nào tôn sùng những thứ người như Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống? Những Trần Ích Tắc thời đại không những thiếu hiểu biết về chính trường quốc tế, lại cũng không biết rằng đã từ lâu Á Đông không chấp nhận quan niệm về nhân quyền của Tây phương, vì ngoài những bất đồng về văn hóa, xã hội, nhân sinh v..v.. giữa những nền văn minh khác nhau, Á Đông còn coi sách lược lưỡng chuẩn (double standard) về nhân quyền của Tây phương như là một sự áp đặt để đạt những mục đích kinh tế, tôn giáo. Tây phương, với bản chất đế quốc, chưa bao giờ tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới. Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, đã viết rõ:

“Thật ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên tắc không liên quan gì đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến sự tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương” (James Speck, Editor, The Chomsky Reader, p. 331:  U.S. foreign policy is in fact based on the principle that human rights are irrelevant, but that improving the climate for foreign business operations is highly relevant.)

Mơ tưởng ở sự hữu hiệu của chiến thuật “mách bu”, giới chống Cộng bây giờ mới ngã ngửa người ra thất vọng, và các nhà bình luận nổi tiếng là bình luận láo trên các diễn đàn truyền thông hải ngoại, đã quay ra bình luận tiêu cực về chuyến đi Việt Nam của ông Bush. Trước kinh nghiệm này, không hiểu họ đã chịu mở mắt ra chưa hay vẫn còn hi vọng vào Hạ Viện Mỹ, Dân Biểu Mỹ, Quốc Hội Mỹ, Quốc Hội Âu Châu hay vào vài cái nghị quyết, đạo luật ấm ớ mà thực chất chẳng có tác dụng là bao nhiêu.

Bây giờ tôi xin sang đến vấn đề cá nhân: chống hay không chống Cộng? Tôi không ngần ngại mà khẳng định một điều: “Tôi không chống Cộng”. Tại sao? Tôi có bổn phận phải giải thích cho bất cứ ai là tại sao không? Tuyệt đối là không. Nhưng đã viết về chống hay không chống thì có lẽ tôi cũng nên có vài nhận xét về chủ đề này. Trước hết, chúng ta cần phải nhận rõ một điều: “không chống Cộng” và “là Cộng” là hai điều hoàn toàn khác nhau. Hai chữ “Cộng Sản” thực ra chỉ là cái mũ của những người không đủ khả năng thảo luận trên các chủ đề, hoặc không thể chấp nhận những quan điểm khác với quan điểm chống Cộng của mình.

Như trên đã nói, ở Mỹ trong mấy chục năm, tôi đã có cơ hội đọc rất nhiều sách về cuộc chiến tranh Việt Nam, về Phật Giáo, và về Ki Tô Giáo, và điều này đã làm tôi thay đổi tư duy rất nhiều về thực chất của cuộc chiến cũng như thực chất của hai tôn giáo lớn ở Việt Nam: Phật Giáo và Công Giáo.

Thứ nhất: về cuộc chiến chống Pháp trở lại Đông Dương thì không có gì đáng nói, vì cuộc chiến đó hầu như là của toàn dân, trừ số người đã phục vụ cho Pháp, trong đó có tôi, vì hoàn cảnh đã đưa đẩy tôi phải nhập trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, và sau đó phục vụ trong quân đội Quốc Gia, dưới cái dù của quân đội Pháp, và sau này, trong QLVNCH. Có đáng nói hay không là kết quả đã đưa đến Hiệp Định Genève.

Một luận điệu bóp méo lịch sử thường thấy ở hải ngoại là: “Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam”, hay “Cộng sản xâm lược miền Nam”. Những lời nói vô trí này đặt trên giả định là hai miền Nam Bắc là hai quốc gia riêng biệt, độc lập. Muốn biết những luận điệu này có khớp hay không, chúng ta cần trở lại vài điều khoản chính yếu trong Hiệp Định Genève. Hiệp định Genève có hai phần: phần “Thỏa Hiệp” và phần “Tuyên Ngôn cuối cùng” [Final Declaration]

Phần “Thỏa Hiệp…”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Tướng Pháp Henri Delteil, Quyền Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, và ông Tạ Quang Bửu, Thứ Trưởng Quốc Phòng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Có vài điều khoản chính như sau:

Điều khoản 1 (Article 1) nói về sự thiết lập “một đường ranh giới quân sự tạm thời” (A provisional military demarcation line) [Vĩ tuyến 17] để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc, và lực lượng Liên Hiệp Pháp (French Union) ở phía Nam làn ranh giới.

Điều khoản 8 ấn định quyền kiểm soát hành chánh ở phía Bắc Vĩ Tuyến 17 thuộc Việt Minh và ở phía Nam thuộc Pháp (Civil administration in the regroupment zone to the North of the 17th parallel was to be in the hands of the Vietminh, and the area to the South of the parallel was to be in the hands of the French)

Điều khoản 14, đoạn (a) [Article 14, Paragraph (a)] viết rõ: “Trong khi chờ đợi cuộc Tổng Tuyển Cử để Thống Nhất Việt Nam, quyền hành chánh dân sự trong mỗi vùng rút quân nằm trong tay các phe có quân đội rút quân (nghĩa là Pháp và Việt Minh) theo tinh thần của bản Thỏa Hiệp.”  (Pending the general elections which will bring about the Unification of Vietnam, the conduct of civil administration in each regrouping zone shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped there in virtue of the present Agreement).

Bản “Tuyên Ngôn…” gồm 13 đoạn, liên quan đến cả Cambod và Lào, có một đoạn đáng để ý: Đoạn (6) [Paragraph (6)] nguyên văn như sau:

“Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY  ĐẤT ĐAI. Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”

(The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY. The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Vietnam.)

Qua những văn kiện lịch sử này, chúng ta thấy rõ là “Việt Nam Quốc Gia” vốn nằm dưới cái dù của Pháp, và phải thi hành Hiệp định Genève dưới cái dù của Pháp. Nhưng khi Mỹ, dùng cường quyền thắng công lý, nhảy vào thay thế Pháp, đưa con cờ “Công Giáo chống Cộng” Ngô Đình Diệm về [Xin đọc bài “Vài Nét Về “Cụ Diệm” trên giaodiemonline.com], dựng lên miền Nam, sống vì viện trợ Mỹ, chịu sự sai khiến của Mỹ, chạy làng không chịu thi hành cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956, và cưỡng ép người dân phải chấp nhận một sự phân chia hai miền độc lập, phản bội điều khoản: “ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY  ĐẤT ĐAI”  trong Hiệp định Genève. Đây là những sự kiện lịch sử. Ai có thể phủ bác được xin lên tiếng.

Nói tóm lại, không làm gì có chuyện chia nước Việt Nam thành hai miền độc lập về chính trị và quân sự. Huyền thoại về một miền Nam độc lập như một quốc gia riêng biệt chỉ là sản phẩm do Mỹ dùng cường quyền thắng công lý tạo ra về sau, tuy trong bản Tuyên Ngôn Đơn Phương (Unilateral Declaration) của Mỹ về Hội Nghị Genève, Mỹ không bao giờ nói đến “Nam” hay “Bắc” mà chỉ nói đến một nước Việt Nam (Kahin & Lewis:  Nowhere in its unilateral declaration did the US speak of a “South” or “North” Vietnam. Every reference of the American representative was to a SINGLE VIETNAM.).  Ngoài ra Mỹ cũng đã hứa sẽ không đe dọa hoặc can thiệp bằng võ lực vào việc thống nhất đất nước qua cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956.   Thật vậy, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, Walter Bedell Smith xác định trong bản Tuyên Ngôn tại Washington D.C. như sau:

“Trong trường hợp những quốc gia nay bị chia đôi ngoài ý muốn, chúng ta sẽ tiếp tục tìm kiếm giải pháp thống nhất qua bầu cử tự do, giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm là bầu cử được thi hành nghiêm chỉnh” và “Hoa Kỳ sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp”

(In the case of nations divided against their will, we shall continue to seek to achieve unity through free elections, supervised by the United Nations to ensure that they are conducted fairly…  The US will refrain from the threat or the use of force to disturb them)

Trong cuốn The United States In Vietnam: An Analysis In Depth Of The History Of America’s Involvement In Vietnam, hai Giáo sư đại học Cornell, George McTurnan KahinJohn W. Lewis, viết, trang 59:

“Tuy Hoa Kỳ nói rằng “sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp” nhưng điều hiển nhiên chúng ta thấy ngay sau đó là Hoa Kỳ đã sửa soạn dùng mọi phương cách khác để ủng hộ chế độ Saigon [do Mỹ  dựng lên] trong việc không tôn trọng những điều khoản trong Thỏa Hiệp”

(Though the US said it would “refrain from the threat or the use of force to disturb” the agreements, it soon become evident that it was prepared to use every other means to back up the Saigon regime in its departure from their central provisions).

[Tưởng chúng ta không nên quên là ngay từ sau Hiệp Định đình chiến 1954, Mỹ đã gửi Lansdale ra ngoài Bắc để  phá hoại, tuyên truyền, và cổ võ giáo dân Công giáo di cư vào Nam làm hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm với những khẩu hiệu như “Chúa đã vào Nam” và “Đức Mẹ đã bỏ miền Bắc vào Nam” v..v.. để dụ đám giáo dân thấp kém. Vì vậy hơn 800 ngàn Giáo dân Công Giáo đã ào ào kéo vào Nam, không buồn để ý đến chuyện những khẩu hiệu lố bịch trên đã chứng tỏ là nếu tin như vậy thì thành ra Ông Mác đã đuổi Chúa và Đức Mẹ chạy từ Bắc vào Nam, tuy rằng Chúa và Đức Mẹ đều là những bậc toàn năng, toàn trí, quyền phép vô cùng, làm gì cũng được, cùng lúc chứng minh trình độ và ý thức tôn giáo của giáo dân Công giáo Việt Nam. Thật là tội nghiệp cho đầu óc của họ.]

Hãy để tâm suy nghĩ một chút. Việt Minh động viên người dân, tốn bao xương máu trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cuối cùng đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt nền đô hộ của thực dân Pháp, thu hồi độc lập cho đất nước, phải chăng chỉ để chia nước Việt Nam thành hai miền riêng biệt, để cho miền Nam trù phú thóc gạo, lâm, ngư sản thuộc quyền những kẻ không hề có một công trạng gì với đất nước như Ngô Đình Diệm, một người thuộc dòng họ Tam Đại Việt Gian như Giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang đã chứng minh, và nằm yên trong vài Trường Dòng Công Giáo ở ngoại quốc trong khi đa số người dân đang kháng chiến chống Pháp và một số nhỏ hơn đang chiến đấu cho cái mà họ tin là lý tưởng quốc gia? Nếu không tin ở giải pháp chính trị để tiết kiệm xương máu người dân thay vì theo đuổi giải pháp quân sự, là đất nước sẽ thống nhất qua cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 theo quy định của Hiệp định Genève thì Việt Minh có chịu ký Hiệp định Genève không khi đang thắng thế. Thống nhất đất nước là mục tiêu tối hậu không thể thay đổi của Việt Minh và rất hợp với lòng dân, với truyền thống dân tộc, và xóa bỏ chính sách chia Việt Nam làm ba Kỳ để trị của Pháp… Nhưng Mỹ đã vì những quan niệm chính trị sai lầm về chính trị nên đã dùng miền Nam làm tiền đồn chống Cộng cho Mỹ, vi phạm Hiệp định Genève, và đưa Việt Nam vào một cuộc chiến tàn khốc vô ích vì kết cục không thay đổi: Việt Nam vẫn đi đến thống nhất dù bắt buộc phải dùng đến giải pháp quân sự. Người Đại Hàn rất ngưỡng mộ Việt Nam vì họ không biết đường nào để đi đến thống nhất đất nước của họ, tuy muốn.

Tôi vẫn thường thắc mắc: “Miền Nam có hơn một triệu quân, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay, xe tăng, tàu chiến, B52, và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không còn chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao vẫn không thắng nổi đối phương để rồi Mỹ phải tìm cách Việt Nam hóa cuộc chiến, “rút lui trong danh dự”, và cuối cùng Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” được miền Nam? Vậy ngoài yếu tố quân sự, những yếu tố nào đã quyết định cuộc chiến? Phải chăng là lòng yêu nước? Chính Nghĩa? Hợp với lòng dân và được dân ủng hộ? Ý chí chiến đấu của binh sĩ? Khả năng chỉ huy của các cấp lãnh đạo? Và còn gì nữa? Vậy luận cứ “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” ở hải ngoại có một giá trị trí thức nào không hay chỉ là nói để mà nói mà không biết mình nói cái gì.

Chuyện Mỹ “rút lui trong danh dự” ra khỏi miền Nam, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam, nhìn qua lăng kính lịch sử thì không lấy gì làm lạ. Tại sao? Vì bản chất cuộc chiến hậu Genève ở Việt Nam là cuộc chiến chống xâm lăng và thống nhất đất nước, và Việt Nam có truyền thống chống xâm lăng rất kiên trì và chịu đựng mọi hi sinh. Nhưng mà ai xâm lăng?  chúng ta hãy đọc vài tài liệu của Mỹ trong số hàng trăm tài liệu khác:

Daniel Ellsberg trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255, viết: Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ. (In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.); và John Carlos Rowe and Rick Berg viết trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), cũng viết, trang 28-29: Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”…Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân lọại trên khắp Đông Dương. (As late as 1982 – after years of unremitting propaganda with virtually no dissenting voice permitted expression to a large audience – over 70% of the general population (but far fewer “opinion leaders”) still regarded the war as “fundamentally wrong and immoral,’ not merely “a mistake”..  In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)

Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào những con số tổn thất trong cuộc chiến do Mỹ gây nên vì chính trị sai lầm như nhiều chính khách và học giả Mỹ đã thú nhận và nhận định.

– Mỹ:  Chết 57,702; bị thương 313,616, cộng với hơn 1,000 chết không phải do chiến trận.

–  Nam Việt Nam: Chết 185,528; bị thương 499,026.

– Bắc Việt: Chết 924,048; số bị thương ước tính ít nhất gấp đôi.

– Cả hai miền: 415,000 thường dân chết; 936,000 bị thương.

– Trên 10 triệu tấn bom đã thả xuống Việt Nam, Cam bốt, và Lào (vào khoảng gấp hơn 2 lần tấn bom mọi phe dùng trong đệ nhị Thế Chiến.)

– Mỹ cũng đã trải trên đất nước Việt Nam 76,954,806 lít hóa chất trong đó có 49,268,937 lít chất độc màu da cam (Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam, Giao Điểm 2005, trang 52).

Chúng ta hãy tự đặt cho mình một câu hỏi, với những con số tổn thất như vậy, bên nào bị nặng hơn, và nếu cần phải thù hận thì bên nào sẽ thù hận hơn. Nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ thấy những thái độ thù hận một chiều, đúng ra là ngược chiều, từ phía những người quốc gia ở hải ngoại. Có vẻ như những người đi buôn thù hận này nghĩ rằng, những người bên phía CS không phải là người, không có cha mẹ, vợ chồng con cái, bạn bè thân thuộc v..v.. nên những mất mát tổn thất của họ không đáng kể, chỉ có những tổn thất của phía chúng ta mới đáng để thù hận. Có vẻ như những người chống Cộng một chiều này nghĩ rằng trong cuộc chiến chỉ có CS là ác, còn QG hay Mỹ thì không. Họ lầm to, họ không biết gì về những hành động đối với dân, với kẻ thù của người lính Quốc Gia cũng như của người lính Mỹ.

Cộng Sản có Đặng Thùy Trâm. Chúng ta có ai? Chúng ta đã thua CS về quân sự, nay chúng ta lại thua về tình người, vì ở trong nước, dư luận có luận điệu thù hận phe quốc gia thật là hiếm hoi. Nhưng cũng may, những tổ chức CCCĐ, CCCB, CCCC ở ngoại quốc chung quy chỉ là những tổ chức của đám người hoặc mất gốc, hoặc đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc, đang nắm những phương tiện truyền thông ở hải ngoại nhưng thiếu khả năng, thiếu trí tuệ và giáo dục, nên chỉ có thể đưa ra những hành động chống Cộng phi lý làm nhục lây đến cả cộng đồng người Việt di cư như rủ nhau đi biểu tình chống phá Expo, triển lãm tranh ảnh, văn nghệ của Việt Nam, chống phá phái đoàn các em học sinh về Việt Nam nghiên cứu trao đổi văn hóa v..v… Tuyệt đại đa số người Việt di cư đã bỏ lại đàng sau quá khứ, hướng về tương lai của dân tộc, bằng chứng là mỗi năm có hàng trăm ngàn “Việt kiều” về thăm quê hương, trong số đó không thiếu gì những người khi xưa đã giữ những chức vị cao cấp ở miền Nam.

Phải chăng vì vậy mà, Phật Giáo, vốn là tôn giáo của dân tộc, đang sửa soạn đi một bước đi ngoạn mục đầy tình người, đầy tinh thần Phật Giáo, đầy tinh thần dân tộc, mà đáng lẽ chính quyền Việt Nam đã phải thực hiện từ lâu rồi: Phối hợp Phật Giáo trong và ngoài nước, trong tương lai gần, Phật Giáo Việt Nam sẽ tổ chức ba Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan, một tại Sài Gòn, một tại Huế và một tại Hà Nội, để cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho tất cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của cuộc chiến tranh, dù đã qua đời hay còn tại thế. Các Đại Trai Đàn này có tên là Thủy Lục Giải Oan Bình Đẳng Cứu Bạt Trai Đàn. Oan khổ là tất cả những bất hạnh xảy ra ngoài ý muốn và không đáng xảy ra.

Quan điểm của Phật Giáo về việc tổ chức Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan được trình bày qua vài đoạn sau trong bản Phổ Cáo Cùng Đồng Bào trong Và Ngoài Nước:

“Quý đồng bào và liệt vị Phật tử chắc cũng thấy như chúng tôi rằng muốn có một tương lai cho đất nước và quê hương, chúng ta phải có khả năng nắm tay nhau cùng đi trong tình huynh đệ và nghĩa đồng bào. Điều này chỉ có thể thực hiện một khi ta chấp nhận được nhau và tha thứ cho nhau, và vì thế chữa lành thương tích trong lòng người, nói lên được niềm đau nỗi khổ và những oan khuất lâu nay là một điều thiết yếu.  Đại Trai Đàn Chẩn tế Giải Oan là để làm công việc ấy. Tại Đại Trai Đàn, chúng ta tới với nhau, nhìn nhận nhau như anh chị em ruột thịt một nhà, chúng ta cầu nguyện cho tất cả những người thân đã từng chết đi một cách oan ức…Ta sẽ có dịp khóc cho tất cả các đồng bào và thân nhân xấu số của ta …Đồng bào ta từ giới lão trượng đến giới trung niên và thiếu niên, ai cũng có tâm yêu nước thương nòi, ai cũng ao ước đấu tranh cho nền độc lập, tự do, thống nhất và hòa bình cho đất nước; nhưng khi đất nước bị đặt vào một hoàn cảnh khó xử, nhiều người trong chúng ta đã phải đối đầu với nhau và trở nên nạn nhân của một cuộc đấu tranh khắc nghiệt và lâu dài. Nhiều người trong chúng ta đã phải trải qua những hoàn cảnh cực kỳ bi thương, thê thảm, đọa đày, nỗi oan ức chưa bao giờ được biết tới… Nay đất nước đã được thống nhất, hòa bình đã được tái lập, chúng ta có dịp trở về với nhau, nắm tay nhau, chấp nhận nhau để cùng cầu nguyện cho nhau, cho những người đã khuất và những người còn đang tiếp tục gánh chịu oan nghiệt, và để tất cả cùng có cơ hội chữa lành những vết thương rướm máu lâu ngày chưa lành. Các Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan là một trong những hình thức thực tập chữa trị thương tích, nối kết lại tình đồng bào ruột thịt, và làm vơi đi những oan khổ uất ức đã được chứa chất lâu nay.

Chúng tôi biết, tổ chức những Đại Trai Đàn như vậy không phải là một chuyện dễ. Sẽ có những người đồng bào không đồng ý với công việc này. Có thể vì đã từng bị mất mát khổ đau và thiệt thòi quá nhiều trong quá khứ hoặc vì còn sợ hãi không dám nhìn nhận nỗi đau thương vẫn còn chôn kín ở đáy lòng mình và ở đáy lòng những người đồng bào mình, cho nên các vị ấy chưa mở trái tim của mình ra được. Tuy nhiên, trái tim của đại đa số đồng bào ta hiện tại đã mở ra trên chiều hướng tha thứ, chấp nhận; hầu hết đều ước ao có cơ hội chữa lành những thương tích rướm máu còn lại trong tâm hồn. Vì nhận thấy được điều đó nên chúng tôi đã dám đứng ra làm công việc Phật sự này.”

Vậy đến bao giờ số người nhỏ nhoi, sống với dĩ vãng, nuôi dưỡng thù hận, đi ngược thời gian mới có thể mở được trái tim ra, mở để mà thấy kéo dài sự thù hận là một điều phi lý, vì tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một cuộc chiến không ai muốn, là nạn nhân của một hoàn cảnh lịch sử về chính trị và xã hội của một nước nhỏ, một hoàn cảnh đã vượt ra khỏi vòng kiểm soát của quốc gia chúng ta, vì các cường quốc đã dùng cường quyền thắng công lý để can thiệp vào chuyện nội bộ của nước ta, và bỏ đi tâm cảnh “mách bu”, trông ngóng ở sự can thiệp của nước ngoài vào chủ quyền Việt Nam… Những bài tường trình về các chuyến về quê của nhiều tác giả, đặc biệt là của Lý Thái Xuân, Nguyễn Mạnh Quang gần đây, cho thấy đất nước đã khác xưa và mở mang tiến bộ rất nhiều về mọi mặt, kể cả về mặt tình người, trái hẳn với những hình ảnh đen tối mà nhiều báo chí hay diễn đàn truyền thông ở hải ngoại thường mô tả. Những người về thăm quê, mấy trăm ngàn người một năm, tất nhiên phải thấy rõ tình trạng đất nước ngày nay ra sao. Ai có thể lừa dối họ bằng những luận điệu xuyên tạc bịa đặt vô căn cứ.

31 năm qua rồi, ngày nay, hơn 60% người dân Việt Nam sinh sau 1975, tại sao chúng ta cứ còn đầu độc lớp trẻ bằng những hận thù của lớp trước. Ra công xuyên tạc, mạ lỵ những người lãnh đạo đảng Cộng Sản bằng những ngôn từ hạ cấp không làm thay đổi được một sự kiện lịch sử là chính người Cộng Sản đã thành công huy động được dân chúng đánh đuổi thực dân Pháp và rồi thực hiện được thống nhất đất nước, phù hợp với sự mong ước của tuyệt đại đa số người dân Việt. Ai không muốn cho đất nước thống nhất, Trung Nam Bắc là một, xin hãy lên tiếng. Hay là chỉ có thể thống nhất dưới bóng đen của cây thánh giá? Có chăng chỉ là bọn người vẫn cho rằng “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” hay sống trong tâm cảnh “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con”. Thật là tội nghiệp cho những loại đầu óc như vậy của họ.

Phần trước: Tản mạn về chống Cộng – Phần I (Trần Chung Ngọc)

Ngày 30 tháng 5 năm 2007

Trần Chung Ngọc

Trần Chung Ngọc (1931, Hà Nội – 29 tháng 1 năm 2014, Illinois, Hoa Kỳ) là một học giả người Mỹ gốc Việt. Tốt nghiệp bằng tiến sĩ vật lý tại Đại học Wisconsin – Madison, Hoa Kỳ, Trần Chung Ngọc từng tham gia giảng dạy tại trường Đại học Khoa học Sài Gòn và các cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đồng thời có thời gian nhập ngũ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau năm 1975, Trần Chung Ngọc sang định cư tại Hoa Kỳ, ông tiếp tục nghiên cứu vật lý. Sau khi về hưu, ông Ngọc viết về các chủ đề lịch sử và tôn giáo liên quan tới Việt Nam. Ông mất lúc 11 giờ ngày 29 tháng 1 năm 2014 tại Illinois, Hoa Kỳ do một cơn đau tim.

Leave a Comment

Xem thêm