Pháp đã lấy gì của Việt Nam?

Sử tây cũng như ta nhắc nhiều đến vụ Liên quân 8 nước cướp phá Bắc Kinh nhưng ít nhắc đến trận Pháp cướp phá Huế năm 1885 <== “nền văn minh Đại Pháp” là đây!

Đây là vụ mất mát lớn nhất trong lịch sử Kinh thành, gắn liền với sự kiện “Thất thủ kinh đô” sau khi phe chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết thất bại trong kế hoạch úp sọt quân Pháp ở đồn Mang Cá ==> Ngày 5/7/1885 (23/5 năm Ất Dậu), Pháp tấn công vào kinh đô Huế và tha hồ cướp bóc, đốt phá.

Linh mục Père Siefert đã ghi lại: “Kho tàng trong hoàng cung đã mất đi gần 24 triệu quan vàng và bạc… Cuộc cướp cạn ấy kéo dài trong 2 tháng còn gây tai tiếng hơn cuộc cướp phá Cung điện Mùa Hè của Thanh Đế ở Bắc Kinh”.
Cũng theo Père Siefert, khi đối chiếu với bảng kiểm kê tài sản của hoàng gia nhà Nguyễn trước ngày 5/7/1885 thì quân Pháp đã cướp: “228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương, hạt trai, hạt ngọc, 271 đồ bằng vàng trong cung của bà Từ Dũ. Tại các tôn miếu thờ các vua… thì hầu hết các thứ có thể mang đi… đều bị cướp”.

Ngay bản thân tướng De Courcy – người chỉ huy cuộc tấn công vào kinh đô Huế – ngày 24/7/1885 (tức 20 ngày sau khi khởi đầu cuộc tấn công) đã gửi cho chính phủ Pháp một bức điện với nội dung sau: “Trị giá phỏng chừng các quý vật bằng vàng hay bằng bạc dấu kỹ trong các hầm kín là 9 triệu quan. Đã khám phá thêm nhiều ấn tín và kim sách đáng giá bạc triệu. Xúc tiến rất khó khăn việc tập trung những kho tàng mỹ thuật. Cần cử sang đây một chiếc tàu cùng nhiều nhân viên thành thạo để mang về mọi thứ cùng với kho tàng”.

Quốc Sử quán triều Nguyễn cũng chép: riêng tại Phủ Nội Vụ ở tầng dưới cất giữ 91.424 thỏi bạc đỉnh 10 lạng, 78.960 thỏi bạc đỉnh 1 lạng; tầng trên cất giữ khoảng 500 lạng vàng, khoảng 700.000 lạng bạc; kho gần cửa Thọ Chỉ cất giữ 898 lạng vàng, 3.400 lạng bạc; toàn bộ số vàng bạc này đã bị mất khi Pháp chiếm kinh thành.

Song song với đó, một phần của cải đã được phe chủ chiến của vua Hàm Nghi, đứng đầu là Tôn Thất Thuyết, đã cho đem ra chiến khu Tân Sở – Quảng Trị để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Số vàng bạc ngân lượng này về sau cũng thất tán hoàn toàn.

Trong quá trình quân Pháp truy đuổi Tôn Thất Thuyết từ tháng 7/1885, quan binh tỉnh Quảng Trị (trung thành với Pháp) đã thu giữ 34 hòm bạc chứa 36.557 tiền bạc và 6 hòm bạc do ông Thuyết chưa kịp mang đi chứa 196 thỏi bạc, mỗi thỏi 10 lạng và 18.696 tiền bạc.. tất cả hòm bạc này khi đệ nạp về kinh đã bị quân Pháp giữ.

Trong quá trình quản lý, tòa Khâm sứ Trung Kỳ của Pháp nắm rất rõ kho vàng bạc trong kinh thành Huế. Tháng 6/1899, Pháp đã phái đại diện cùng thượng thư bộ Công, bộ Lễ đào tìm, phát hiện một gầm bạc. Dưới thời vua Duy Tân năm 1915 đào được hai lần tại cửa Tường Loan. Lần một được 60 hòm gỗ chứa 10.000 hốt bạc và lần hai được 70 hòm gỗ chứa 10.000 hốt bạc thỏi.

Các số bạc này phần lớn Pháp “chỉ đạo” triều đình nộp ở ngân hàng Thượng Hải (chi nhánh ngân hàng Đông Dương) để lấy lãi hàng năm cho triều đình, mua trái phiếu quân dụng ủng hộ Pháp trong chiến tranh thế giới thứ nhất hay chuyển tiền triều đình đã gửi ở ngân hàng Đông Dương góp vốn với 1 công ty do người Pháp làm chủ để thành lập thương cục mới. Từ đó đến nay, chưa ai rõ việc góp vốn này đưa đến kết quả ra sao? Có chăng gần như triều đình Việt Nam đã mất trắng.

Cần nhắc lại là trước đó, vào năm 1862, sau khi để mất 3 tỉnh miền Đông Nam bộ vào tay thực dân Pháp, vua Nguyễn đã phải huy động rất nhiều vàng bạc và cổ vật trong kho tàng của mình để đền trả số chiến phí mà Pháp đòi là 4 triệu piastre (quy đổi thành hơn 2,8 triệu lượng bạc).

Nhiều tư liệu cho biết nhà vua đã phải lấy rất nhiều đồ vật quý chế tác bằng vàng ngọc, thậm chí tận thu những kim ấn, kim sách của hoàng tử, công chúa, thân vương; các tư trang bằng vàng, bạc của cung phi để trả nợ. Vì lý do này, phần lớn cổ vật chế tác bằng vàng bạc của Huế trở nên khan hiếm, thậm chí cả cây lá ngọc cành vàng trong cung điện, lăng tẩm, miếu đền của triều Nguyễn cũng đã bị thay bằng loại lá ngọc cành gỗ nhũ vàng.

Theo Dòng Sử Việt

Leave a Comment

Xem thêm