Hung thủ vụ xả súng ở Mỹ và câu chuyện về chiến tranh ở Việt Nam

Vụ xả súng ngày hôm qua tại lễ hội âm nhạc Route 91 Harvest tại Las Vegas đã cướp đi mạng sống của 59 người và làm ít nhất 527 người khác bị thương. Đây được xem là vụ xả súng đẫm máu nhất lịch sử nước Mỹ tính đến thời điểm hiện tại.

Hình ảnh Stephen Paddock khi tham chiến tại Việt Nam

Hung thủ được xác định là Stephen Paddock, 64 tuổi, sinh sống tại Mesquite, Nevada, được biết đến như một người giàu có, một kẻ nghiện rượu và là tay chơi cờ bạc chuyên nghiệp. Động cơ gây án chưa được làm rõ, bởi Paddock chưa bao giờ có tiền án, tiền sự nghiêm trọng. Căn nhà nơi tìm thấy các khẩu súng cũng “rất sạch đẹp, không có dấu hiệu bất thường”. Một quan chức Mỹ cũng cho biết Paddock có tiền sử về vấn đề tâm lí.

Theo thông tin gần nhất, em trai của Stephen Paddock cho biết hung thủ từng là một cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam (1971-1972). Stephen Paddock nhập ngũ và tham gia chiến đấu tại chiến trường Việt Nam khi vừa tròn 18 tuổi. Trong nhiều lá thư gửi về cho gia đình trong thời gian chiến đấu tại Việt Nam, Paddock đã rất hào hứng khi được tham chiến và trực tiếp xả súng trong nhiều trận giao tranh ác liệt. Sau khi từ Việt Nam trở về Paddock đã bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương tâm lí – hội chứng vốn ảnh hưởng đến 11% số cựu chiến binh từ tham chiến ở Việt Nam. Paddock trở thành một kẻ nghiện rượu và cờ bạc. Ông chuyển đến Nevada sống vì lí do ghét ồn ào và đông người ở Florida.

Nhiều chuyên gia tâm lý nhận định, việc bộ phim The Vietnam War phát sóng gần đây trên khắp các đài truyền hình Mỹ và với một tâm lý bất thường của một cựu binh, Paddock có khả năng chịu ảnh hưởng rất lớn dẫn đến hành vi xả súng điên loạn tại Las Vegas.

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 – 1975) là sự tiếp tục và cao nhất chính sách bành trướng của đế quốc Mỹ. Chính sách này bắt đầu từ thời kì Mỹ thực hiện “học thuyết Tơ-ru-man” (1947) nhằm đảm bảo “an ninh quốc gia” và “bao vây chủ nghĩa cộng sản”. Để thực hiện âm mưu, dã tâm xâm lược của mình, đế quốc Mỹ đã sử dụng bạo lực phản cách mạng đến cao độ, tiến hành một cuộc chiến tranh lớn nhất từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Tuy nhiên, điều mà Mỹ không bao giờ có thể ngờ tới là cuộc chiến tranh Việt Nam không những không đạt được mục đích ban đầu mà còn vấp phải những thất bại to lớn trên nhiều phương diện.

Theo thú nhận chính thức của chính phủ Mỹ, con số thương vong của lính Mỹ ở Việt Nam cao hơn tất cả các cuộc chiến tranh trong lịch sử nước này, trừ cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Hậu quả đầu tiên là số người chết trong chiến tranh ngày một tăng. Tính chung cả cuộc chiến tranh, con số thống kê công khai là từ 1961-1974 có tới 57.259 người Mỹ đã chết ở Việt Nam trong đó có gần 37.000 người (64%) không quá 21 tuổi. Riêng năm 1970, gần 70% số thương vong là những lính quân dịch trẻ. Đó thực sự là món thuế máu nặng nề đối với nhân dân Mỹ.

Đi liền với chết chóc là thương vong, bệnh tật. Cũng theo con số chính thức, có 303.704 người đã bị thương trong chiến đấu. Trong số này có 153.329 người bị thương nặng phải nằm bệnh viện dài ngày còn 150.343 người mang những vết thương đã được chữa khỏi. Lầu Năm Góc cũng thừa nhận có đến 20.000 người Mỹ chắc chắn đã nhiễm chất da cam ở Việt Nam. Ngoài ra còn có gần 350.000 cựu binh khác (15% tổng số) bị giải ngũ một cách không vinh dự, không được bảo đảm việc làm, không được tôn trọng và tin cậy sau khi về nước.

Cái chết chưa phải là tất cả, chiến tranh Việt Nam còn để lại những hậu quả khôn lường cho những binh lính Mỹ sống sót trở về. Nó đã “mở ra” một thời kì “sau Việt Nam” đầy đen tối cho nước Mỹ. Đi liền với cái chết, thương tật và những di chứng, binh lính Mỹ còn gặp phải nỗi ám ảnh mang tên “hội chứng Việt Nam”.

Nhiều người Mỹ trở về từ cuộc chiến đã mãi kẹt lại ở quá khứ, với những day dứt, hận thù, ám ảnh. Đó là những chấn động lớn về tâm lý và tình cảm của người Mỹ nói chung và các cựu chiến binh Mỹ nói riêng. Nó khiến cho hầu hết lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam đều nghiện một chất gì đó như rượu, thuốc lá… thậm chí cả heroin.

Theo số liệu thống kê có khoảng 1/5 số lính Mỹ từng tham gia chiến tranh Việt Nam trong những năm 70 đã nghiện ma túy. Bên cạnh đó, những tổn thương về tâm lý ở họ còn biểu hiện rõ ràng là thường xuyên trong trạng thái lo lắng, căng thẳng. Hàng chục năm sau chiến tranh Việt Nam, những triệu chứng bệnh đó vẫn còn tồn tại. Đó là cái giá quá đắt mà nước Mỹ phải trả cho cuộc chiến “định mệnh” của chúng ở Việt Nam.

Người lính Mỹ đã gặp phải hai cú sốc nặng nề sau khi trở về từ cuộc chiến. Đầu tiên là khi mang súng sang Việt Nam, họ bị tuyên truyền là chiến sĩ bảo vệ tự do, bảo vệ Việt Nam khỏi họa bị “cộng sản” xâm lấn. Thế nên, có những người sau nhiều năm trở về từ cuộc chiến vẫn cho rằng mình chiến đấu cho phe chính nghĩa.

Bé gái 9 tuổi Phan Thị Kim Phúc chạy trốn bom napalm trên con đường ở Trảng Bàng, Tây Ninh ngày 8/6/1972

Cú sốc thứ hai với những người lính Mỹ là ngày về, thay vì được đón chào như những anh hùng dân tộc như những lớp cha anh họ sau Chiến tranh thế giới thứ hai hoặc là thế hệ con cháu họ sau này sau vùng Vịnh, họ bị coi là những kẻ giết người.

Số cựu binh Mỹ tự sát sau chiến tranh nhiều hơn cả số người bỏ mạng trong chiến tranh. Có lẽ hơn ba phần tư trong số một triệu người trở thành vô gia cư hoặc thất nghiệp. Gần 700.000 lính quân dịch, rất nhiều người xuất thân nghèo khó, giáo dục thấp không được hưởng trợ cấp xứng đáng. Họ rất khó khăn khi tìm kiếm việc làm, duy trì các quan hệ gia đình…

Hơn nữa, thực tế, hầu như chính phủ Mỹ không làm gì để hỗ trợ các cựu chiến binh cùng gia đình của họ. Sau cuộc chiến đã xuất hiện hàng loạt tác phẩm, phim ảnh, chương trình truyền hình mô tả cuộc sống của cựu binh Mỹ, những ký ức tồi tệ họ trải qua, chứng loạn thần họ gánh chịu khi tham chiến ở Việt Nam và cả khi đã trở về nhà. Nhiều cựu binh đã thành công khi trở lại cuộc sống của những người dân bình thường, nhưng rất nhiều người thất bại.

Leave a Comment

Xem thêm