Biên giới Việt Nam – Trung Quốc được xác lập như thế nào trong 30 năm đàm phán

Sau hơn 30 năm đàm phán, Việt Nam và Trung Quốc hoàn thành phân giới đường biên giới trên bộ, trên tổng chiều dài hơn 1.400 km, dựa trên những căn cứ pháp lý mà hai bên chấp nhận được.

Ngay sau khi giành được độc lập, ngày 2 tháng 11 năm 1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã gửi thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị hai bên tôn trọng đường biên giới lịch sử do hai Công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 để lại và giải quyết mọi tranh chấp có thể bằng đàm phán. Bức thư nhấn mạnh: “Vấn đề quốc giới là một vấn đề quan trọng cần giải quyết theo những nguyên tắc pháp lý đương có hoặc được xác định lại do Chính phủ hai nước quyết định”. Tháng 4 năm 1958, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trả lời đồng ý với đề nghị của phía Việt Nam, tôn trọng hiện trạng đường biên giới lịch sử được Công ước 1887 và 1895 xác lập. Lập trường này thể hiện sự tôn trọng luật quốc tế, theo đó các Hiệp ước về biên giới không chấm dứt hiệu lực ngay cả khi hoàn cảnh thay đổi. Trung Quốc và Việt Nam đã thừa nhận tính hợp lý của hai Công ước 1887 và 1895.

Đường biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hình thành qua quá trình lịch sử và tồn tại một cách tương đối ổn định kể từ khi Việt Nam thoát khỏi ách Bắc thuộc thế kỷ thứ X. Tạp chí Geographer của Vụ Tình báo và Nghiên cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 29 tháng 10 năm 1964 viết: “Sau hơn 10 thế kỷ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ phá vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lập Vương quốc Đại Cồ Việt… nhà nước mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình… một đường biên giới gần giống như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia cách đây 10 thế kỷ.”

Biên giới trên đất liền Việt Nam và Trung Quốc dài hơn 1.400 km, tiếp giáp giữa 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng,  Lạng Sơn và Quảng Ninh của Việt Nam với tỉnh Vân Nam và  khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc. Biên giới này được hoạch định và phân giới cắm mốc lần đầu tiên trong lịch sử bằng Công ước hoạch định biên giới ngày 20/6/1887 và Công ước bổ sung ngày 20/6/1895 ký kết giữa Pháp và nhà Thanh (Trung Quốc). Các Công ước này, nhìn chung đã xác lập đường biên giới trừ một số điểm và khu vực biên giới không lớn, tại đó hai bên không nhất trí với nhau trong khi giải thích các Công ước.

Trong hơn 100 năm kể từ khi Công ước Pháp Thanh được ký kết, biên giới giữa hai nước trải qua nhiều biến đổi trên thực địa do thời tiết, do biến đổi địa hình địa vật và do những biến động chính trị, xã hội ở mỗi nước, cũng như trong quan hệ hai nước, đặc biệt là cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Chẳng hạn, lời văn mô tả và bản đồ có nơi không đầy đủ, chính xác, rõ ràng. Các cột mốc biên giới được cắm từ cuối thế kỷ 19 không được xác định bằng lưới tọa độ, nhiều mốc bị hư hỏng, bị mất, xê dịch, nhiều mảnh bản đồ gốc không còn. Trên một số khu vực biên giới có sự chuyển dịch dân cư không theo biên giới pháp lý. Vì vậy, hai bên đã nảy sinh những tranh chấp hết sức phức tạp, từ nhận thức khác nhau về hướng đi của biên giới cho đến lịch sử quản lý thực tế về biên giới.

Nhằm xác định lại chính xác biên giới để quản lý lãnh thổ tốt hơn, ngay sau khi bình thường hóa quan hệ tháng 11/1991, Việt Nam và Trung Quốc đã thỏa thuận tiến hành đàm phán hoạch định biên giới mới thay cho Công ước Pháp – Thanh 1887, 1895 và tiến hành phân giới cắm mốc tại thực địa dựa trên nội dung của Hiệp ước hoạch định biên giới mới ký năm 1999. Việc phân giới nhằm tránh những tranh chấp phức tạp xảy ra, làm ảnh hưởng đến quan hệ chính trị giữa hai nước, ảnh hưởng đến môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của mỗi nước.

Đại diện Việt – Trung trao cho nhau bản đồ đường biên giới chủ trương tại Vòng đàm phán thứ 2 vào tháng 7/1994.

CĂN CỨ PHÁP LÝ

Không có chung một căn cứ pháp lý thì sẽ không bao giờ giải quyết được vấn đề biên giới, nhất là giữa các quốc gia có những tranh chấp biên giới, lãnh thổ phức tạp do lịch sử để lại. Đây là tiền đề không thể thiếu khi các bên có thiện chí muốn giải quyết dứt điểm các tranh chấp biên giới lãnh thổ. Nếu không thống nhất được một căn cứ pháp lý, mỗi bên tự ý khai thác tất cả các tư liệu lịch sử, địa lý, dân tộc, văn hóa có lợi cho mình thì chắc chắn không bao giờ giải quyết được tranh chấp phức tạp về biên giới, lãnh thổ quốc gia.

Nếu giữa Việt Nam và Trung Quốc không thỏa thuận dựa vào hai Công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895, cùng với những tư liệu pháp lý, kỹ thuật kèm theo để xác định lại đường biên giới pháp lý giữa hai nước thì chắc chắn khó có thể giải quyết được vấn đề quan trọng này và khó có được thành quả mang tầm vóc lịch sử.

Bởi vì Trung Quốc có thể lập luận rằng xét về mặt lịch sử thì Việt Nam đã là quận, huyện của Trung Quốc hàng nghìn năm, còn Việt Nam thì cũng có thể cho rằng vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây đã là đất của Việt Nam vì “vó ngựa của quân tướng Lý Thường Kiệt đã từng chinh phạt nơi đây”. Rồi còn vô vàn những lý do lịch sử, địa dư, văn hóa khác nữa mà bất kỳ ai cũng có thể sưu tầm, khai thác, công bố để biện minh cho “quan điểm lập trường” riêng của họ vì những động cơ khác nhau.

Tháng 10/1993 Việt Nam và Trung Quốc ký Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ, trong đó nhất trí mở ra 4 diễn đàn đàm phán về biên giới lãnh thổ, gồm ba cấp chuyên viên và một cấp Chính phủ. Hai nước thống nhất được căn cứ pháp lý để đàm phán như sau: “Hai bên đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Pháp và Trung Quốc 1887 và Công ước bổ sung 1895, cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định, cắm mốc kèm theo đã được hai Công ước nói trên xác nhận hoặc quy định, đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc”.  

Như vậy, mọi tư liệu lịch sử, bản đồ, sách giáo khoa, thậm chí cả các tài liệu chính thức đã xuất bản trước thời điểm này, nếu  không được xác nhận là một bộ phận của Công ước nói trên, đều không có giá trị dùng làm căn cứ để xác định hướng đi của đường biên giới trong quá trình đàm phán lần này.

Một căn cứ quan trọng để xét “các nguyên tắc đã thỏa thuận” “Thỏa thuận những nguyên tắc cơ giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ Việt – Trung”, ký ngày 19/10/1993.

Có hai điểm đáng chú ý ở đây. Thứ nhất, Điểm 3 của Thỏa thuận này quy định: “Sau khi hai bên đối chiếu xác định lại đường biên giới, phàm những vùng do bất kỳ bên nào quản lý quá đường biên giới, về nguyên tắc cần trả lại cho bên kia không điều kiện”. 

Trong quá trình phân giới cắm mốc, với một số khu vực nhạy cảm do có sự tồn tại của dân cư vượt qua biên giới pháp lý mới được hoạch định, thì hai bên thỏa thuận thực hiện nguyên tắc giảm tối đa tác động đến khu dân cư, điều chỉnh biên giới sao cho cân bằng về diện tích, giữ nguyên hiện trạng khu dân cư, như nhà cửa, ruộng vườn, nghĩa trang mồ mả.

Thực hiện nguyên tắc tại Điểm 3 nói trên, hai bên đã thỏa thuận xử lý thỏa đáng các khu vực có dân cư sinh sống. Chẳng hạn, 4 khu vực với diện tích hơn 7 km2 có dân cư Việt Nam sinh sống quá đường biên giới pháp lý mới về phía Trung Quốc vẫn được giữ nguyên. 5 khu vực với diện tích gần 6 km2 dân Trung Quốc ở quá đường biên giới pháp lý về phía Việt Nam cũng được giữ nguyên hiện trạng.

Đối với khu vực điểm cao có chốt quân sự, thì các điểm cao nằm trong lãnh thổ của nước nào thì thuộc nước đó. Với các điểm cao nằm ngay trên đường biên thì không bên nào được phép đóng quân hay không được xây dựng bất kỳ công trình quân sự nào trên đó, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ hai, Điểm 4 của Thỏa thuận năm 1993 quy định: “Đối với những đoạn biên giới đi theo sông, suối, hai bên đồng ý sẽ tính đến mọi tình hình và tham khảo tập quán quốc tế, thông qua thương lượng hữu nghị để giải quyết”.

Tại vòng 5 đàm phán cấp Chính phủ, hai bên đạt được thỏa thuận về nguyên tắc giải quyết đường biên giới trên sông suối giữa hai nước. Đối với những đoạn biên giới đã được Công ước 1887, 1895 xác định rõ ràng thì căn cứ vào các quy định của Công ước để xác định biên giới, cũng như sự quy thuộc các cồn bãi trên sông suối biên giới. Với những đoạn biên giới theo sông suối chưa được Công ước xác định rõ ràng thì hai bên sẽ áp dụng nguyên tắc phổ biến của luật pháp và tập quán quốc tế để xác định.

Nguyên tắc chung là: “Trên các đoạn sông, suối tàu thuyền đi lại được, đường biên giới sẽ đi theo trung tâm luồng chính tàu thuyền chạy. Trên các đoạn sông suối tàu thuyền không đi lại được, đường biên giới sẽ đi theo trung tâm của dòng chảy hoặc dòng chính”.

30 NĂM ĐÀM PHÁN

Giữa thập niên 70 của thế kỷ 20, Việt Nam và Trung Quốc chính thức đàm phán về biên giới. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân các cuộc đàm phán không có tiến triển và đã bị gián đoạn trong một thời gian dài. Đến tháng 12/1999, Việt Nam và Trung Quốc chính thức ký Hiệp ước hoạch định biên giới, được Quốc hội hai nước phê chuẩn trong năm 2000. Hiệp ước này mô tả hướng đi của đường biên giới bằng lời văn và thể hiện bằng đường màu đỏ trên bản đồ tỷ lệ 1/500.000. Dựa vào Hiệp ước này, từ tháng 12/2001, hai bên tiến hành phân giới, cắm mốc.

Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ảnh: Bộ Ngoại giao Việt Nam

Đến cuối năm 2008, công tác phân giới cắm mốc cơ bản hoàn thành. Kết quả là chiều dài biên giới chính xác là 1.449,566 km, trong đó có 383,914 km đường biên giới đi theo sông suối, cắm được 1.970 cột mốc, trong đó có 1.548 cột mốc chính, 422 cột mốc phụ.

Toàn bộ công việc này được thực hiện để phân vạch đường biên giới trên thực địa một cách chính xác, cụ thể, rõ ràng, hoàn chỉnh và được đánh dấu bằng một hệ thống mốc quốc giới chính quy, bền vững và đủ về số lượng trên thực địa.

Quá trình giải quyết các tranh chấp về biên giới, lãnh thổ để xác lập được một hệ thống đường biên giới, mốc quốc giới rõ ràng, chính quy, hiện đại và bền vững giữa Việt Nam và Trung Quốc là một quá trình kéo dài trên 30 năm, với rất nhiều khó khăn trở ngại, không chỉ do lịch sử để lại mà còn do những nguyên nhân về điều kiện tự nhiên, khoa học kỹ thuật, chính trị, pháp lý, tâm lý , tình cảm mà cả hai bên cần phải vượt qua.

Hoàn thiện việc xác lập đường biên trên bộ giữa hai nước Việt – Trung, cùng với việc ký được Hiệp ước phân định vịnh Bắc Bộ, Hiệp định nghề cá trong vịnh Bắc Bộ năm 2000, là những bài học quý báu bổ sung cho thực tiễn pháp lý quốc tế về quy trình xác lập biên giới, ranh giới trên đất liền và trên biển giữa các quốc gia láng giềng, mở ra khả năng tiếp tục giải quyết các vấn đề trên biển giữa hai nước ở Biển Đông.

Leave a Comment

Related posts