20/3/2003: Mỹ hủy diệt Iraq vì một lý do mà đến nay tròn 15 năm chưa chứng minh được

Cách đây mười lăm năm về trước, ngày 20/3/2003, không hề tuyên chiến, Liên quân gồm Mỹ, Anh (98% của quân lực đến từ hai nước này) và một số nước bất ngờ tấn công Iraq.

Chiến dịch “Tự do Iraq” bắt đầu bằng những loạt bom sấm sét để dọn đường cho lục quân tiến vào Iraq lật đổ chế độ của Tổng thống Saddam Hussein. Cuộc chiến Iraq năm đó còn được gọi là Chiến tranh Vùng vịnh lần 2 (do Tổng thống Bush con phát động) để phân biệt với Chiến tranh Vùng Vịnh lần 1 diễn ra năm 1991 (dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Bush cha).

Thủy quân lục chiến Mỹ thuộc Tiểu đoàn 2, chuẩn bị sẵn sàng sau khi nhận lệnh vượt biên giới Iraq từ phía bắc Kuwait vào ngày 20/3/2003 (ảnh: Getty Images)

Nét nổi bật của cuộc chiến này là việc Mỹ đã rất thành công trong việc tạo cớ đưa quân vào Iraq. Khi ấy Mỹ một mực khẳng định rằng Iraq vẫn đang sở hữu và phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt (gồm vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học), đồng thời có liên hệ với tổ chức khủng bố al-Qaeda. Tất nhiên Mỹ và cả Liên Hợp Quốc đã không thể tìm thấy bằng chứng cho điều này ngay trước cuộc chiến. Dù không nhận được nghị quyết phê chuẩn của Liên Hợp Quốc (do thiếu chứng cứ) và bị thế giới phản đối, Tổng thống Mỹ George W. Bush vẫn phát động Chiến tranh xâm lược Iraq dựa trên các cáo buộc của mình.

Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell giơ 1 chiếc lọ con mà ông nói có khả năng mang bệnh than, khi ông này trình bày với Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về bằng chứng cáo buộc Iraq tiến hành chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt (ảnh AP chụp ngày 5/2/2003)

Trong khi đó, Iraq đã gần suy kiệt sau thất bại trong Chiến tranh Vùng Vịnh lần 1 (bị tới 34 nước do Mỹ đứng đầu đánh cho “tơi tả”) và các lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc sau đó. Thực tế, Iraq từng có chương trình chế bom hạt nhân nhưng chưa tạo ra được 1 quả bom nào và cũng đã từ bỏ chương trình này. Còn vũ khí sinh học và hóa học thì Iraq từng có (và đã từng sử dụng trong chiến tranh với Iran) nhưng sau năm 1991, Iraq đã ngừng phát triển các loại vũ khí này, đồng thời tiến hành tiêu hủy chúng. Ngoài ra, trước sức ép của Mỹ và đồng minh, Iraq còn phá hủy dần kho tên lửa của mình trong nỗ lực tránh nguy cơ nổ ra chiến tranh – một điều Iraq không hề mong muốn trong bối cảnh đất nước đang hết sức kiệt quệ và bị cấm vận.

Khói che phủ dinh Tổng thống Saddam Hussein trong vụ oanh tạc Baghdad ồ ạt do Mỹ chỉ huy vào ngày 21/3/2003. Lực lượng đa quốc gia đã không kích một cách mau lẹ và dữ dội, tạo nên các quả cầu lửa và những tiếng nổ inh tai cùng với các đám mây khói bên trên trung tâm thành phố. Tên lửa đã lao thẳng vào khu vực chính trong dinh Tổng thống bên bờ sông Tigris cũng như các tòa nhà khác của chính phủ (ảnh: Getty Images)

Mặc dù Iraq đã tỏ ra hợp tác và đã phải rất “khổ sở” cố gắng chứng minh mình “chẳng hề có” vũ khí hủy diệt hàng loạt, Mỹ vẫn không “đoái hoài” và chiến tranh đã xảy đến. Điều trớ trêu là sau khi đã tiến quân vào Iraq và hạ bệ được ông Saddam Hussein, Mỹ và đồng minh của mình vẫn không tài nào tìm được vũ khí hủy diệt hàng loạt ở đây để biện minh cho cuộc chiến.

Đến năm 2008, khi sắp sửa kết thúc nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông Bush đã thú nhận trên kênh truyền hình ABC (được tờ Guardian dẫn lại) rằng quyết định tiến hành chiến tranh chống lại Saddam Hussein đã dựa trên tin tức tình báo sai và đây là điều hối tiếc lớn nhất trong đời làm tổng thống của ông. Dẫu vậy, ông vẫn bảo vệ quyết định để lại quân Mỹ ở Iraq (phải đến năm 2011 quân Mỹ mới rút hết khỏi quốc gia này). Sang năm 2009, đến lượt Thủ tướng Anh Tony Blair, đồng minh thân cận của Mỹ trong Chiến tranh Iraq, thừa nhận trên BBC rằng dù cho Iraq năm 2003 không có vũ khí hủy diệt hàng loạt thì ông vẫn ủng hộ cuộc chiến nhằm loại bỏ Saddam Hussein.

Tổng thống George W. Bush giơ ngón tay cái vẻ chiến thắng trên tàu sân bay Abraham Lincoln ngoài khơi bang California (Mỹ) sau khi ông này tuyên bố kết thúc các trận chiến chính ở Iraq hôm 1/5/2003. Dòng chữ tiếng Anh ở phía trên: Sứ mệnh đã hoàn thành (ảnh: AP)

Vì những điều này mà nhiều người coi Chiến tranh Iraq 2003 thực chất là 1 cuộc chiến vì dầu mỏ, trong đó Mỹ-Anh muốn dựng lên 1 chính phủ thân họ và sẵn sàng cho các công ty Mỹ và Anh vào khai thác nguồn tài nguyên dầu khí phong phú của quốc gia Trung Đông này.

Để đánh Iraq, người ta lấy cớ vũ khí hủy diệt hàng loạt. Khi đánh xong rồi và không tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt (trừ 1 số ít không đáng kể bị vứt bỏ và sót lại từ trước năm 1991), cũng không có ai phải chịu trách nhiệm hay bị “xử lý” vì những thông tin sai và những hành động võ đoán cả. Chỉ có một thực tế: Chủ quyền 1 quốc gia bị xâm phạm một cách dễ dàng, Tổng thống nước này bị lật đổ và xử tử, còn người dân Iraq thì phải hứng chịu bao khổ đau do chiến tranh gây ra. Tất cả đều là sự đã rồi.

Từ ngày 3 tháng 1 đến ngày 12 tháng 4 năm 2003, 36 triệu người trên toàn cầu đã tham gia vào gần 3.000 cuộc biểu tình phản đối cuộc chiến Iraq

Nước Mỹ che đậy của thảm sát này dưới tên gọi: cuộc giải phóng Iraq nhưng kết quả, cái mà Mỹ và các nước đồng minh đã đem đến Iraq đó là chết chóc, hỗn loạn và bất ổn kéo dài ở đất nước này. Các nhóm từng bị chính quyền Saddam trấn áp nay trỗi dậy. Lực lượng của chế độ cũ phản công lại. Xung đột giáo phái và sắc tộc gia tăng. Các chiến binh chiến đấu quyết liệt chống lại lực lượng chiếm đóng, và các tổ chức khủng bố nhanh chóng nhập cuộc, biến nơi đây thành 1 ‘thiên đường’ khủng bố. Đất nước Iraq trong giai đoạn 2003-2011 được đặc trưng bởi các cuộc nổi dậy, các vụ ám sát, và đặc biệt là các vụ đánh bom liều chết với tần suất và mức độ tàn bạo chưa từng có tiền lệ, không hề “thua kém” ở Palestine, Afghanistan hay Pakistan. Trước 2003 không hề có tình trạng này.

Leave a Comment

Related posts